Những ghi chép khi đi thăm bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Ảnh

Các thời kỳ và sự thăng trầm của mỹ thuật Việt Nam

Thời Lý (1010-1225)  Mỹ thuật phật giáo và cung đình phát triển mạnh. Phong cách nghệ thuật thế kỷ XI-XII thiên về sự mềm mại, uyển chuyển, đường nét nhuần nhụy tinh tế, họa tiết trải ra khắp bố cục. Đề tài phổ biến là hoa lá (sen, cúc, phù dung), sư tử, rồng, phượng, mây, sóng nước, các nhạc công và vũ nữ. Nghệ thuật thời Lý có sự giao thoa theo một cách nào đó với văn hóa Chămpa ( VI-XIV).

ẢnhẢnh

Thời Trần (1225-1400) cũng như thời Lý mỹ thuật phật giáo, cung đình phát triển mạnh, đặc biệt là Phật giáo. Do ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc nên mỹ thuật thời Trần phần nào mang tính hiện thực, khỏe khoắn, vững chãi. Thủ pháp nghệ thuật khoáng đạt hơn, chú ý đến đại thể nhiều hơn chi tiết mà hiệu quả nghệ thuật vẫn cao. Các tác phẩm nổi bật: tượng hổ nằm (lăng Trần Thủ Độ), võ sĩ giao đấu trên thạp gốm, Rồng chạm cánh cửa (chùa Phổ Minh), cá sấu bậc thành nhà Hồ, tiên nữ nhạc công chạm khắc gỗ ở chùa Thái Lạc.

Ảnh

Ảnh

Triều đại Lê Sơ (1428-1527) với chủ trương tập trung tài lực củng cố lại đất nước sau chiến tranh, triều đình đưa ra nhiều chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa mới. Thời gian này Phật giáo được chấn chỉnh: hạn chế việc dựng chùa, đúc chuông mới, người tu hành phải qua thẩm định về phẩm hạnh và trình độ. Triều đình còn cấm quý tộc, quan lại xây cất những công trình đồ sộ, ngay cả lăng tẩm của vua và hoàng hậu cũng khiêm tốn, sơ sài để tiết kiệm quốc khố. Những chính sách này mặc dù mang tính tích cực về mặt xã hội nhưng cũng làm mất đi môi trường cho mỹ thuật phát triển. Mặt khác, từ giữa thế kỷ XV, vương triều Lê sơ coi trọng nho giáo Trung Hoa nên mỹ thuật thời này bị ảnh hưởng rõ rệt.

Ảnh

Thời Mạc (1527-1595): mỹ thuật bước sang một giai đoạn phát triển mới, nghệ thuật trang trí ở cácđình làng bắt đầu với sự bùng nổ của các khuynh hướng dân gian, tồn tại song song, hài hòa với khuynh hướng truyền thống tạo nên một diện mạo mới cho Mỹ thuật Việt Nam. Mỹ thuật nhà Mạc mang tính trang hoàng và hoành tráng cao. Ở bất kỳ bộ phận nào có thể trang trí được thì hầu như các nghệ sĩ dân gian đều tận dụng để đưa vào những bức chạm có ý nghĩa và vui mắt làm tăng sự lộng lẫy của các di tích. Các tượng thờ ở thời kỳ này nhiều nhưng nhiều nhất vẫn là tượng quan âm với kích cỡ lớn. Mỹ thuật thế kỷ XVI được đánh giá như đoạn mở đầu thời kỳ phục hưng cho thế kỷ tiếp theo

Ảnh

Ảnh

Nửa đầu thế kỷ XVII là thời kỳ Mỹ thuật phát triển rực rỡ mang tính hoàn chỉnh cao biểu hiện ở kỹ thuật điêu khắc điêu luyện và nội dung phong phú. Điêu khắc tượng thờ ở chùa nhất là các tượng phật, bồ tát, tượng hầu được tạo tác rất đẹp. Tượng hậu ( chân dung người đóng góp xây dựng hoặc tôn tạo chùa) vì không phải theo khuôn phép như tượng phật nên nghệ nhân sáng tạo tự do hơn, sinh động và có sức truyền cảm hơn. Thời Hậu Lê vẻ đẹp các kiến trúc đền chùa được nhân lên nhiều lần bởi những phiến đoạn  chạm khắc vừa mang tính chính chính thống vừa có tính dân gian làm cho các công trình gần gũi hơn với con người ở mọi tầng lớp xã hội. Về lĩnh vực điêu khắc, có thể coi nửa đầu thế kỷ XVII là thời kỳ phục hưng thứ hai của nghệ thuật dân tộc sau thời Lý

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Thời Tây Sơn (1788-1802) mỹ thuật thời kỳ này đặc biệt là tượng thờ được xem như đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc ở Việt Nam. Triều đại Tây Sơn tuy chỉ tồn tại trong vòng 14 năm nhưng đã kịp hình thành một phong cách riêng trong đó nổi trội là tính hiện thực và tính nhân văn. Một số tác phẩm nổi trội: tượng Tuyết Sơn, tượng  các vị tổ sư phái thiền tây, tượng các vị kim cương (Tây Phương). Có lẽ ở đây các vị tiền bối chỉ mượn đề tài tôn giáo để làm cái cớ miêu tả những mẫu người thực trong xã hội

Ảnh

Ảnh

Một loại hình nghệ thuật khác là hội họa vẽ màu trên giấy dó bồi dạng tranh thờ tranh sinh hoạt khá phổ biến có bộ có giá trị nghệ thuật cao như tranh Vũ Di (Phú Thọ), Nam Đàn (Nghệ An)

Thời Nguyễn (1802-1945) Mỹ thuật cung đình tập trung nhiều nhất ở cố đô, các dòng mỹ thuật dân gian cũng được phát triển mạnh ở cá địa phương. Các tác phẩm: Giảng học đồ, quan văn và quan võ vinh quy ( Đền Độc Lôi- Nghệ An)

Ảnh

Ảnh

Thế kỷ XX: thời kỳ cận hiện đại, văn hóa Việt Nam được cấu trúc lại để giao lưu với văn minh phương tây. Đầu thế kỷ này đã xuất hiện tranh sơn dầu của họa sĩ Lê Huy Miến, sau đó là họa sĩ Thang Trần Phềnh. Nhưng phải đến năm 1925, trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương ra đời đã truyền thụ kiến thức mỹ thuật phương Tây từ luật xa gần đến giải phẫu tạo hình, từ cách bố cục đến chất liệu sơn dầu hoàn toàn khác với phương pháp ước lệ không gian thời gian của hội họa phương Đông. Tranh giá vẽ và điêu khắc lần lượt xuất hiện trong tư thế chững chạc. Đó là bước ngoặt mới trên bình diện mỹ thuật Việt Nam mà điểm mốc quan trọng đánh dấu loại hình tác phẩm mới được sáng tác bởi các cá nhân các họa sĩ hữu danh song hành tồn tại với loại hình nghệ thuật truyền thống.

Ảnhphụ nữ Lào- Thang Trần Phềnh

Ảnh

Hai thiếu nữ và em bé_ Tô Ngọc Vân

Ảnh

Em Thúy- Trần Văn Cẩn.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s